Nghề viết văn_Nguyễn Hiến Lê_ch.2

CHƯƠNG II

NGHỀ VIẾT VĂN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Văn chương hạ giới rẻ như bèo.
TẢN-ĐÀ

Thưa bạn, tôi vốn không ưa những chuyện buồn. Tôi nghĩ buồn thường phá hoại, vui mới kiến-thiết. Vậy nếu bạn thấy cuối chương trước và đầu chương này đều có giọng hơi buồn, thì thực không phải tại tôi, mà tại vấn-đề vậy.

Trong chương trên, tôi đã dẫn một đoạn của Vũ Bằng về tình cảnh của nhà văn lớp trước. Đây lại xin phép ông dẫn thêm một đoạn nữa:

«Có những nhà văn-nghệ viết bài cả tháng cho báo mà được ba đồng (I); một người khách từ quê ra tỉnh mỗi lần vài chục cây số mất hàng đồng mà hàng nửa năm không đem về cho nhà được lấy một xu; lại có anh viết, viết viết mà cứ nhịn đói dài người ra, phải ăn phở hàng tháng để trừ cơm rồi kết cục, đến cuối năm, giao-thừa không có tiền trả, xuýt bị hàng phở, phang cho một trận.»

Vũ Bằng không nói quá đâu. Ngay ở Sài Gòn, nơi «tiền rừng bạc bể» nầy, năm 1939, một anh bạn tôi đảm nhiệm phụ-trương văn-chương cho một nhất-báo có tiếng mà mỗi tháng chỉ được lãnh có năm đồng, một anh khác đem một truyện ngắn bán cho một tờ tuần báo, được chủ-nhiệm trả bằng một tô phở, một ly cà-phê và vài lời an ủi.

Thời này có khá hơn một chút. Muốn xét kỹ, tôi xin phân-biệt văn-nhân làm năm hạng:

— nhà thơ
— nhà soạn kịch
— nhà viết tiểu thuyết
— nhà viết sách khảo-cứu
— ký giả.

Nhà thơ thì khỏi phải xét tình cảnh của họ. Nếu họ không có cha mẹ, vợ con, anh em, bạn-bẻ để nương tựa, lại chỉ chuyên làm thơ mà hòng bán thơ để sống thì họ điên, thật là điên. Xin hỏi bạn, thơ bán cho ai? Cho nhà xuất-bản ư? Không một nhà nào chịu mua cả. Vũ Hoàng Chương là một trong những thi-nhân có danh nhất mà cũng còn phải sống về nghề dạy học và bạn nên biết tập «Rừng phong» của ông xuất-bản hồi năm ngoái, không phải nhà xuất-bản bỏ tiền in đâu.

Còn nếu đem thơ bán cho nhà báo ư? Thì mỗi tuần mỗi nhà báo nhận được hàng chục, hàng trăm bài thơ của cac thi sĩ trong các văn-đoàn A, B, C … gởi lại yêu-cầu, khẩn khoản xin đăng, tòa soạn phải liệng vào sọt rác từng xấp, từng xấp, chỉ giữ lại vài ba bài đăng «vị tình»; như vậy thì còn ai dại gì bỏ ra tiền mà mua?

Nếu có người nào thấy thơ mình được đăng mà đòi tiền nhuận bút – tôi tưởng thời này ít ai lại khùng như vậy – thì tòa soạn se nói thẳng vào mặt người đó rằng: «Anh đừng nên lầm tưởng rằng anh có tài. Đăng thơ anh là chúng tôi muốn khuyến khích anh, quảng cáo dùm cho tên anh đấy. Đáng lẽ anh phải trả tiền quảng cho chúng tôi, chứ còn đòi tiền nhuận bút nữa ư?»

Tòa báo nào nhã nhặn lắm thì mới gởi tặng cho «thi hữu» đó một số báo. Nhưng ở Sài-gòn này, bận việc như các ông chủ nhiệm, chủ bút, thì đã có mấy ông dư thì giờ mà nghĩ đến vấn đề «tình cảm» ấy. Tốt hơn là thi sĩ nên lại sập báo mua thì chắc hơn, mua mươi số để tặng ít bạn bè.

Kịch cũng khó bán như thơ, nhất là loại kịch thơ. Kịch của bạn nếu vui, có chút ít nghệ thuật, và đừng dài quá thì nhà báo có thể đăng giúp bạn được. Ấy là chỗ nể nang lắm đấy. Còn như muốn xuất-bản, bạn phải tự bỏ vốn ra như ông Vũ đình Long. Tất nhiên là bạn không cần lợi, tôi vẫn biết.

Tiểu thuyết dễ bán hơn. Hiện nay, nếu không kể những tiểu thuyết cũ tái bản và những tiểu thuyết chỉ dăng trên báo thì môi năm nước nhà xuất-bản trung bình cũng được dăm, sáu chục cuốn. Số đó có vẻ như lớn, nhưng hỏi các nhà xuất bản thì mới biết mười bản thảo gửi tới, họ chỉ nhận có một, hai.

Viết tiểu thuyết có thể rất dễ «kiếm ăn»; miễn là có cái giọng hấp dẫn và biết chiều những thị hiếu tầm thường của đại chúng là người ta có thể «lượm» được mười, mười hai ngàn một tháng rồi. Nhưng tôi biết bạn quí trọng nghề cầm bút, nên không xét trường hợp hạng nhà văn «đầu cơ» ấy.

Bạn có lương tâm, lại yêu nghệ thuật, viết một tiểu thuyết hai trăm trang giấy in, ít nhất mất sáu tháng, như vậy mỗi năm được hai cuốn. Nếu cả hai đều được nhà xuất-bản mua cho – trường hợp ấy hiếm lắm – thì một năm bạn kiếm được khoảng hai vạn đồng (I). Ngoài ra, nếu tiểu thuyết của bạn mỗi năm được tái bản hai cuốn – tác phẩm của Khái Hưng cũng chưa được thế – thì mỗi năm bạn được thêm hai vạn đồng nữa, cộng là bốn vạn. Nhưng bạn có thể chắc rằng luôn trong mười năm hai mươi năm, bạn trứ tác đều đều theo mực đó và bán trôi hết cả như vậy hay chăng? Bạn mà dám chắc thì tôi phục bạn, bạn hơn và Balzac, Hugo, Maugham, Zweig!

(I) Một tiểu thuyết hai trăm trang, thường in hai ngàn cuốn, mỗi cuốn bán khoảng ba chục đồng. Nhà xuất bản trả bạn 10 phần 100 giá bán tính theo số sách in ra. Vậy mỗi cuốn bạn được lãnh 9.000đ, tôi tính chẵn là 10.000đ. Hai cuốn, bạn được 20.000đ. Hiện nay (1968) tác quyền có khi chỉ là 7% 5% 3%, giá sách so  với năm 1955 tăng lên gấp ba, còn mức sinh hoạt tăng lên ít nhất là gấp năm.

Tóm lại, bạn phải vào hạng tiểu thuyết gia đại tài và rất hên mới có hy vọng kiếm được trung bình hơn ba ngàn đồng một tháng, còn kém số lương một thư ký tập sự có bằng cấp cao tiểu, không vợ, không con.

Với số tiền đó mà đùm đề thê tử thì chắc chắn bạn phải như Tú Xương đã:

Chạy ăn từng bữa toát mồ hôi,

và cay đắng, tủi nhục:

Van nợ lắm khi tràn nước mắt.

Còn về loại văn khảo cứu thì tôi chưa thấy nhà văn nào ở nước mình mà chuyên sống về loại ấy. Nó thuộc loại khó bán, mỗi năm toàn quốc xuất-bản độ hai chục cuốn – kể cả những cuốn tái bản – trong số đó chỉ vài ba cuốn in ba ngàn bản, còn thường là hai ngàn, có khi chỉ ngàn rưởi mà bán cũng lây lất năm nầy qua năm khác.  Sách loại ấy viết càng cao, bán càng khó mà những nhà văn đứng đắn bao giờ cũng muốn viết mỗi ngày một cao hơn, bởi vậy nhiều nhà đã phải gác bút, nếu không sẵn có một nghề khác để nuôi nghề viết văn (I).

(I) Gần đây, trong một bài phỏng vấn của báo Văn nghệ mới, Lê văn Siêu, tác giả cuốn Văn minh Việt nam đã chua xót thốt ra những lời nầy:

«Năm tháng làm việc như vậy (để viết, sửa bản đánh máy, sửa ấn cảo cuốn Văn minh Việt nam), tôi được bao nhiêu tiền? Giỏi lắm là tám ngàn đồng. Vậy mỗi tháng là 1.600đ. Với số tiền ấy, tôi làm cách gì để nuôi cái thân trâu ngựa của tôi cho sống mà phụng sự Văn nghệ và nhân dân? Và tôi làm cách gì để nuôi gia đình cho con cái tôi cũng được học tại Trung học và Đại học?»

Vì vậy mà nhà văn họ Lê này đã có hồi phải làm một hạng công chức. (chú thích năm 1968)

Một vài nhà soạn Tự điển và sách giáo khoa, gặp thời thu được khá nhiều, nhưng sự thành công của họ chỉ nhất thời mà sự cạnh tranh thì kịch liệt và đã có người phải xoay qua công việc khác rồi.

Rốt cuộc, hiện nay chỉ có hạng ký giả nhà nghề là dễ sống hơn hết. Tôi không kể những ông chủ báo, bỏ tiền ra in báo, mà cả năm không viết một câu, họ có thể kiếm mỗi tháng hàng trăm ngàn đồng, nhưng họ không phải là nhà văn. Các ông chủ bút làm công thường lãnh lương khá cao, từ sáu ngàn đến mười ngàn đồng, chẳng qua cũng chỉ bằng lương một công chức hạng trung làm lâu năm và đông con, mà công việc các ông ấy nặng nhọc vô cùng, gấp năm gấp mười công việc của một ông tham tá.

Dưới một bực là những người dịch tin thế giới, viết điều tra, tiểu thuyết hoặc đảm nhận những phụ trương (văn học, học sinh, phụ nữ, thể thao…). Những người này mỗi ngày phải viết mỗi ngày khoảng bốn năm trang giấy đánh máy, suốt tháng suốt năm, khi mạnh cũng như khi đau, lúc vợ đẻ cũng nhưng lúc con sài, thậm chí chính họ đau mà cũng không dám nghĩ (I). Mà lương họ được bao nhiêu? Cao lắm thì năm, sáu ngàn mà thấp nhất hai ngàn!

(I) Nên nhớ là nhật báo rất ít khi nghỉ lễ.

Đó, tinh cảnh các nhà văn ở nước ta hiện nay là như vậy.

Tình cảnh ấy một phần lớn do ở trinh độ quốc dân. Trong một nước chỉ có khoảng hai chục triệu người, lúc nầy chia làm hai khu vực, mà tám chục phần trăm mù chữ, còn lại bao nhiêu thì hoặc vif nghèo, hoặc vì không được khuyến khích, hướng dẫn, vẫn coi sách là một xa xỉ phẩm, chưa thấy cần đọc sách như cần ăn, cần uống, trong một nước như thế thì sách làm sao mà bán chạy mà nhà văn làm sao mà khỏi nghèo túng?

Tuy nhiên, ta cũng phải nhận rằng ngay ở Pháp, Anh, Mỹ là những nơi văn chương có một thị trường rộng gấp mười, gấp trăm ta (khắp thế giơi có khoảng năm chục triệu người biết đọc tiếng Pháp và trên ba trăm triệu người biết đọc tiếng Anh), mà nghề viết văn cũng là một nghề chật vật nhất. Charles Braibant trong bài tựa cuôn Le métier d’écrivain (Nghề viết văn) viết:

«Hỡi bạn trẻ (làm nghề viết văn), bạn tới nhằm lúc khó khăn. Sách bán không được. Vài nhà xuất bản thản nhiên nuốt lời, chối cả những điều trong giao kèo mà họ đã ký. Mà nghề càng khó khăn lại càng đông người.»

Ở Mỹ, theo J.N. Leonard trong bài Learning how to write (Học cách viết), thì riêng về loại tiểu thuyết, đã có hàng ngàn nhà chuyên môn và năm nào cũng thêm hàng vạn người tập viết. Trong số đó, bao nhiêu người thành công nghĩa là có tiền và có danh? May lắm là được bốn phần ngàn, còn chín trăm chín mươi sáu phần ngàn kia thì đành ôm cái hận thất bại. Leonard dám quả quyết như vậy vì ông đã điều tra và thấy những tờ báo lớn nhất ở Mỹ mỗi tuần nhận được trên ngàn bài cầu đăng mà chỉ chịu mua có ba, bốn bài.

Song le, nước người, văn nhân dù sao vẫn sướng hơn ở nước ta nhiều vì một khi đã có danh vọng trên văn đàn thì đời họ rất phong lưu.

Chẳng hạn như một tiểu thuyết gia người Pháp, nêu được giải thưởng Goncourt là đã thành triệu phú ngay. Chính giải thưởng không là bao, chỉ có năm ngàn quan, nhưng ảnh hưởng của nó rất lớn: nhà xuất bản sẽ dám in ngay lần đầu hai trăm ngàn cuốn, tính giá trung bình mỗi cuốn năm trăm quan, quyền tác giả ít nhầ là 10 phần 100, tức 50 quan, hay là 5đ; chỉ tính riêng về hai trăm ngàn cuốn đó, tiểu thuyết gia đã được đúng một triệu bạc rồi!

Rồi còn ảnh hưởng đến những cuốn sau nữa: chưa được thưởng, mỗi cuốn in ba ngàn còn sợ ế, được thưởng rồi thì bất kỳ cuốn nào viết ra cũng cầm chắc bán được chục ngàn trở lên.

Nói chi tới những nhà văn nổi danh khắp thế giới như A. Gide, Tolstoi, Gorki, Cronin, London, Maugham, Koestle, Zweig, Steinbeck… Tác phẩm nào họ cũng lần dầu in hàng chục ngàn cuốn rôi tái bản hàng chục lần, dịch ra hàng chục thứ tiếng và đem về cho họ hàng triệu bạc. Như cuốn How to win friends and influence people ủa Dale Carnegie trong bốn năm đã bán được bốn triệu bản và tác giả đã được hưởng ít nhất là hai chục triệu đồng. Hai chục triệu đồng! Nhà văn mình mà được số tiền đó thì cứ ngồi không sống ba đời, tiêu không cũng không hết.

Những ông hoàng trên văn đàn đó, ông nào cũng có ba, bốn cái biệt thự hai ba chiếc xe hơi, cứ viết trong năm, sáu tháng lại nghỉ một thời gian, đi du lịch khắp năm châu, và mỗi khi cao hứng lại đẻ ra một bài độ ba, bốn ngàn chữ để cho các báo danh tiếng tranh nhau mua với cái giá không dưới bốn chục ngàn đồng bạc, tức như  mười đồng mỗi chữ. Mười đồng  mỗi chữ! Thấy những mà tủi cho mình. «Văn chương hạ giới rẻ như bèo», hai chữ «hạ giới» của cụ Tản Đà đây có lẽ hơi «rộng» đấy.

Đã hay mấy danh sĩ Tây phương vừa kể đều là những bậc đa tài và quảng kiến, người ta trả văn của họ như vậy thật là xứng giá, nhưng Việt Nam ta cũng có nhiều truyện ngắn củ Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Nam Cao, Bùi Hiền… nghệ phẩm không kém những truyện của họ mà chỉ bán được … được bao nhiêu? Theo giá bây giờ thì mười trang đánh máy khoảng ba ngàn chữ, trung bình chỉ được năm trăm đồng, thật kém xa văn Âu, Mỹ. Nguyên-nhân là tại độc-giả của mình ít, nên các nhà xuất-bản và nhà báo không dám trả giá cao hơn.

Có điều đáng mừng là số độc giả đó cỏ thể tăng lên mau. Nếu nước nhà được thống-nhứt và hòa-bình mà chính phủ lại đặc-biệt lưu tâm đến văn-hóa thì chỉ trong ít năm, số người mù chữ không còn mà hạng người có một sức học phổ thông sẽ đông gấp năm, gấp mười ngày nay, khiến cho số sách bán được cũng tăng theo.

Lại thêm cánh đồng văn-hóa của ta còn biết bao khu vực để khai-thác, một khi đồng-bào đã chịu tìm học thì chỉ sợ không đủ người viết, chứ không sợ thiếu đầu đề để viết, và như vậy các văn-nhân không sợ canh-tranh nhau ráo riết.

Ai vào các thư-viện công-cộng tất đã thấy, về bất kỳ ngành nào ta cũng còn hoàn-toàn thiếu sách bằng tiếng Việt. Tôi tin rằng chẳng bao lâu nữa, quốc dân sẽ đòi hỏi những sách đó và các nhà cầm bút nên suy-nghĩ về điều ấy mà dự-bị từ bây giờ đi.

Đó là nói về sách, con về báo ta cũng còn thiếu chuyên viên trong nhiều loại văn: phóng-sự điều-tra của ta mới phôi-thai, loại du ký ngắn của ta chưa sắc-sảo, hấp dẫn, đến như loại bài kể kinh-nghiệm tưng người (I) và loại dạy cách làm những việc lặt-vặt (2) như trồng bông, sửa máy, đóng tủ, làm đèn … thì còn thiếu hẳn.

(I) Người Anh gọi là The personal experience story.
(2) How to do article.

Và ngay trong khu-vực tiểu-thuyết mà chúng ta đã tấn-bộ nhất, chúng ta vẫn còn phải gắng sức lâu mới theo kịp được người. Lẽ nào mà đại đa số độc-giả cứ mê-muội hoài như ngày nay và chỉ đọc toàn những tiểu-thuyết «anh anh em em» cùng những truyện «kiếm hiệp một đồng»?

Rồi còn kịch, tùy-bút, phê-bình… biết bao khu vực gần như hoang-vu vẫn sẵn-sàng cho bạn tha hồ khai-khẩn.

Tóm lại, thị-trường văn-chương ta lúc nầy, tuy đông người bán vắng người mua thật – nước nào mà chẳng vậy? – nhưng nếu bạn khéo lựa món-hàng bổ ích cho quốc dân rồi thận-trọng, kiên-nhẫn sản xuất thì một ngày kia, khi trình-độ đọc sách của quần chúng đã tiến, tác-phẩm của bạn sẽ hợp với nhu-cầu của quốc-dân, luc đo, cái ngòi bút sắt của bạn còn chi mà chẳng thực nhọn trong cách kiếm ăn đời? (I)

(I) Do hai câu tho Tản-Đà:
Bây giờ anh (tức ngòi bút) đổi lông ra sắt,
Cách kiếm ăn đời có nhọn không?

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s